Ðạo và đời nương tựa bên nhau, hiện diện trong cuộc sống như con thuyền trôi trên một dòng sông. Thiếu con sông, chiếc thuyền mất đi ý nghĩa. Vắng bóng thuyền, dòng sông không còn thi vị, hữu tình. Mượn hình ảnh trên qua lời của một nhà sư, bài viết này xin mời người đọc bước lên thuyền, ghé thăm một sư cô trên dòng đời bồng bềnh, trầm luân của muôn vạn kiếp người. Ðời tu hành của sư cô chứng nghiệm cuộc sống của một người đời bước vào đường đạo.

Sống ở Quận Cam, được hành nghề viết lách, tôi đã có dịp ghé các ngôi chùa, dự lễ Phật Ðản, nghe tụng kinh, gặp các tăng ni. Mặc dù có cơ hội được nói chuyện với các thầy, các sư cô, được nghe Phật pháp và những giai thoại về Ðức Phật, tôi vẫn mong biết thêm về đời tu riêng tư của mỗi vị sư. Họ xuống tóc từ lúc nào? Tu ra sao? Có khó không?

Lòng ?tham? kiến thức của tôi rất hiếm khi được đáp ứng vì hầu như không có một nhà tu chân chính nào lại muốn nói về họ. Người tu hành phải diệt bớt cái tôi để khỏi vướng tham, sân và si, tránh mắc vào danh lợi. Chỉ khi nào cần kể lại những kinh nghiệm bản thân để cho người nghe hiểu thêm về lời Phật dạy, các thầy hay các cô mới nói về mình, mà có nói thì cũng tự chế diễu cá nhân và rất khiêm tốn.

Một trong những người khiêm tốn đó là tỳ kheo ni Thích Nữ Huệ Hạnh, còn có tên là Sư Cô Như Thủy. Vào trung tuần Tháng Tư năm nay, trong một buổi pháp thoại của Sư Cô tại Quận Cam, tôi được nghe về một khoảng thời gian trong đời đi tu của Sư Cô, mà cũng có lẽ là điển hình cho đời sống khổ hạnh nhưng hữu ích trên con đường tìm giải thoát của nhiều nhà tu khác.

Sư Cô Như Thủy, khoảng 58 tuổi, chào đời tại Biên Hòa, đi tu từ năm 15 tuổi, sống tại Vĩnh Long trong những năm sau này. Sư Cô đã giảng pháp trong hơn 20 năm. Mấy năm gần đây, Sư Cô làm việc thiện ở trong nước, thỉnh thoảng đến Hoa Kỳ để thuyết pháp theo lời mời của các Phật tử.

Trên thân hình tầm thước, chất phác của Sư Cô, điểm nổi bật là một vầng trán rộng, đôi mắt sáng hiền từ đi kèm với một giọng nói điềm đạm, ôn tồn mà đôi khi xuề xòa, chân thật, không giấu được tiếng cười qua những mẩu chuyện khôi hài hoặc sự xúc động khi kể chuyện đau lòng.

Tôi chú ý đến chuyện đời tu hành của Sư Cô Như Thủy vì nó xảy ra trong một giai đoạn lịch sử của Việt Nam cận đại. Cùng lúc hàng triệu người dân bị đói khổ, hàng ngàn cựu quân nhân bị đày đọa trong tù cải tạo, hàng vạn người khác phải vượt biển tìm tự do, để lại một đất nước chìm trong nghèo khó sau khi cộng sản chiếm Miền Nam năm 1975, chuyện gì đã xảy ra cho những người tu hành?

Sau đây là những lời kể lan man của Sư Cô Như Thủy được chắp nhặt từ một buổi pháp thoại có thâu băng của nhóm Ðuốc Tuệ tại Westminster, California ngày 13 Tháng Tư, 2008:


Sư cô vừa làm ruộng vừa dạy pháp


Sư cô chỉ là một tu sĩ rất bình thường. Năm 1975, cô được 25 tuổi. Lúc đó đất nước đang trong một hoàn cảnh rất bối rối, cho nên những người trẻ tuổi không được ghi tu sĩ là một cái nghề, vì nghề là một cái gì sinh nhai, mà tu sĩ không là nghề sinh nhai, cho nên cô ghi lý lịch của mình là làm ruộng, và theo lý lịch đó thì phải đi làm ruộng.

Trong 15 năm làm ruộng, cô có hơn một năm chăn bò, làm rẫy, chằm nón, tức là làm tất cả những gì các thanh niên trẻ tuổi còn ở lại Việt Nam đều làm.

Lúc đó những vị trưởng lão tôn túc, một số ra đi, một số ẩn cư, một số phải ở lại thành phố. Những tu sĩ trẻ tuổi mới xuất gia đều phải đi đến các nông trường. Cô bị đôn lên làm giáo thọ vì là người đã học trước nên bắt buộc phải dạy người học sau. Nếu cô không làm thì không ai làm hết.

Buổi học đầu tiên của cô khai giảng năm 1976 tại thiền viện Viên Chiếu (huyện Long Khánh, tỉnh Ðồng Nai) dưới cội cây dầu và số thính chúng chỉ có ba em, nhỏ nhất 14 tuổi và lớn nhất 16. Học trò cũng như cô giáo đều mặc y phục lao động, mang sẵn giày, để một bên một cái liềm, một cái cuốc cùng ấm nước. Học từ 1 giờ đến 2 giờ trưa, không bảng đen, không phấn trắng, không tập vở, không kinh sách gì hết.

Lúc đó hành trang học chỉ là trí nhớ, giống như thời Phật còn tại thế, tức là nghe mà không có sách vở. Cô chỉ kể vài câu chuyện để xách tấn các em. Sau đó vội vã ra đồng làm việc. Thời đó một ngày làm việc từ bảy đến tám tiếng, hoàn toàn không nghỉ kể cả những ngày rằm hay bố tát.

Lớp học khai giảng được vài tháng thì có các em nhỏ lục tục từ những vùng khác đến. Các em nghe nói có lớp học nên đến để tham học, cũng vào giờ giấc rất khắc nghiệt của Miền Nam thời đó là từ 1 tới 2 giờ trưa. Khắc nghiệt vì quí cô thức dậy từ 3 giờ sáng, ngồi thiền đến 5 giờ, 5 giờ rưỡi ăn cơm thì 6 giờ rưỡi phải ra đồng, 11 giờ đi vào rửa mặt, bắt đầu thọ trai (ăn uống), 12 giờ được nghỉ đến 1 giờ.

Sau 1 giờ, những vị không đi học thì phải ngồi vá đồ vì tất cả quần áo đều rách hết. Còn riêng những em được đi học thì học từ 1 đến 2 giờ. Các am cốc hoặc các tự viện ở gần đó mà muốn đến tham học thì phải đi bộ từ 5 đến 10 cây số đường rừng.

Tinh thần cầu học của các em rất cao, cho nên lớp từ từ gia tăng. Khi số thính chúng lên đến 20, 30 người, tu viện phải họp bàn, dành mỗi tuần một ngày cho các em học, nhưng mà giao trước là cho học chứ không cho ăn cơm vì tu viện không có đủ lương thực, thành ra các em phải tự giải quyết lương thực.

Khi lớp học được ấn định vào ngày Chủ Nhật mỗi tuần, có những em đi xe đạp từ Sài Gòn, hai em một xe, vượt 150 cây số để lội ra tới thiền viện học một ngày, rồi chiều đó đạp xe trở về. Một số em bây giờ đang hiện diện rải rác tại Mỹ này.


Rừng hoang còn chân người chĩa trên lối đi


Khi đó đôi khi mỗi ba tháng thầy mới xuống thăm tu viện một lần, vào dạy con cái cách làm ruộng, rồi kể vài câu chuyện thiền sử, rồi vội vã ra về, lên núi ẩn cư trở lại. Có khi suốt sáu tháng thầy cũng không thể xuống được. Dưới này chị em phải tự lực cánh sinh.

Dĩ nhiên trong hoàn cảnh đó, làm thì rất cực, ăn uống thiếu thốn, có khi hai tháng mới được cạo tóc một lần vì không tìm ra dao lam. Chỉ xài một dao lam mà có khi phải mài trở lại, và không có kem đánh răng, cũng không xà-bông, chỉ tắm bằng khế và không giặt đồ vì không có xà-bông. Thành ra người nào cũng ghẻ.

Cái thời đó hình như cả nước đều bị ghẻ, nên cũng không có điều gì đáng kêu ca hết. Nếu một mình thì thấy bất hạnh, mà vì ai cũng vậy cho nên mình thấy đó hình như là một món quà được chia đều nhau.

Rồi sau một lúc tự nhiên các huynh đệ đều nghĩ ra mình tu không chỉ để giải quyết vấn đề ăn uống, lương thực, mà có bổn phận truyền đăng tục viện. Nếu mà Phật pháp đến thế hệ của mình mà hết rồi, không tu học nữa thì coi như mình thiếu bổn phận với người sau. Thành ra không ai bảo ai, mỗi người tự tìm cho mình một lối đi riêng.

Cô nhớ lúc đó ban ngày làm việc từ bảy đến tám tiếng, làm rất nặng, tức là tay thì cuốc mà chân thì phải đạp những nhát cuốc của mình, đạp cho nó lún xuống dưới bùn, rồi thành ra ruộng sình đi, rồi mới phải cấy nước. Nơi của quí cô thời đó là một cánh rừng hoang, được gọi là chiến khu Hắc Dịch ở Quán Chim.

Sau ngày 30 Tháng Tư, khi quí cô đi trong đó thì những chân người chôn vội vã còn chĩa bàn chân bên trên lối đi của mình. Rất thường khi đặt những nhát cuốc, đào những hố để trồng bầu, trồng bí thì thấy xương người, đồ cá nhân còn rất nhiều. Và đó là những xương người rất trẻ vì những tư trang họ để lại là quần áo y phục của các thanh niên thời đó. Dưới những bụi cây, cội cây là những hầm cá nhân, những hầm bí mật mà cuộc chiến còn để lại.

Rừng là rừng hoang hoàn toàn. Quí cô vô trong đó còn thấy những con chim phượng hoàng, con cheo, một ít nai, heo rừng và rất nhiều khỉ, trăn rắn thì vô số. Nhưng lạ lùng là chưa ai bị rắn cắn.

Rất thường khi ngủ dậy thấy ở dưới lưng mình là vài con chuột con bị chận giẹp lép. Còn rắn thì sau mỗi một nhát phảng, tức là con dao lớn mà phát cỏ, thường thấy rắn hay trăn bị đứt hai khúc. Ðó là chuyện rất bình thường.


Sợ vắt và sợ đỉa hút máu


Ðiều quí cô sợ nhất là con vắt. Con vắt là cái con không cần ở dưới nước mà sống ở trên những lá tre, bụi cây mục. Khi xả thiền xong thì mình rờ đâu trên cơ thể cũng thấy, cũng gặp nó hết. Mà nó cắn rồi thì máu chảy cũng giống như là bị đỉa cắn, máu chảy không cầm.

Quí cô không sợ khó khăn mà sợ nhất là con vắt, những con chuột con. Về sau nghĩ lại, Ðức Phật khi ngồi ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, ma quân nó gởi đến những thiếu nữ rất xinh đẹp mà ngài có thể không bị quyến rũ, vẫn vững tâm ngồi cho đến khi thành chánh giác. Nếu mình cứ sợ hoài thì ma quân khỏi gởi người đến, chỉ cần thả vài con chuột con là đủ để cho mình bỏ Bồ Ðề Ðạo Tràng chạy rồi.

Cho nên thôi thì ráng liều mạng, ráng thắng cái sợ đó, chứ thật sự là sợ hãi vô cùng.

Ðến năm 1980, khi cô lập thiền viện thứ hai theo sự chỉ đạo của hòa thượng ở Huệ Chiếu thì có nỗi kinh hoàng nữa là sợ đỉa. Chỉ khoảng hai tiếng đồng hồ ra ruộng thôi, quí cô bắt vô khoảng một keo chao, cái chum, đầy những đỉa đủ màu hết. Quí cô gọi là đỉa hippie (cười). Nó như sợi thung mà có đủ màu hết.

Vì làm giáo thọ, thành ra khi mà quí sư em phỏng vấn, ?Cô có sợ đỉa không?? thì cô phải nói, ?Làm gì mà sợ. Ngũ uẩn giai không. Tâm vô quái ngại là không ngại cái quái gì hết.? (Cười). Thật sự là cô rất sợ. Nhưng mà nói sợ thì rất mất mặt trước các em út. Dù cô chỉ lớn hơn các em chừng vài tuổi thôi.

Cô nhớ có một em quê ở Miền Trung. Nó vừa thấy con đỉa là hét một tiếng. Và nơi an toàn nhất là nó leo lên lưng mình, vừa ngồi, vừa khóc. Sau rồi cô tìm cách thoát nạn bằng cách xin đổi qua băng rẫy. Chứ nếu mình chết giữa trận tiền thì thật sự không em nào dám xuống làm ruộng với đỉa hết.

Ðó là tiểu sử xảy ra trong cái mái nhà mà mấy cô lợp rất là khờ khạo. Lợp cái nhà mà cũng không biết lợp cho nó xuôi, nước nó mới chảy. Mấy cô lợp mái ngang, như là mình trải một chiếc chiếu. Thành ra sau cơn mưa đầu tiên, bao nhiêu nước đều trút vô nhà hết. Thấy vậy mấy thầy ở Thường Chiếu mới nhận định: mấy cô ngang như cua thành ra mái nhà cũng ngang như cua.

Rồi quí cô lợp lá cũng không biết lợp ra sao, không biết hỏi ai, chung quanh là đồng không mông quạnh, không có người nào hết, thành ra dựng đại lên, và dòm nó giống như một tổ chim bồ câu mà một tổ chim rất xấu xí chứ không đẹp. Phải ba năm sau quí cô mới biết trét vách đất, biết lợp nhà cho ngay ngắn, tức là theo nghề dạy nghề.

Thời đó quí cô làm ruộng cũng rất khờ khạo. Thầy chỉ xuống trễ có một buổi, mà quí cô đã nhổ tất cả những cây tại lúa trồng theo kiểu lúa trỉa tức là mình phá rừng, dọn cỏ xong là lấy cây xoi đất rồi bỏ lúa xuống. Ðó là lúa khô. Lúc lên rất yếu đuối. Trong khi cỏ tranh, cỏ mắc cỡ, dây mây, cỏ rừng thì nó lên rất mau. Nhưng mà quí cô không biết phân biệt cây cỏ với cây lúa. Thành ra chỉ một buổi ra ruộng quí vô nhổ sạch lúa hết, chỉ chừa cỏ tranh. Vì cỏ tranh mọc rất mau, nên mình nghĩ đó là cây lúa. Rồi thầy phải chỉ cách phân biệt cây cỏ, cây lúa, và chỉ cách làm cỏ như thế nào.

Ra ngoài ruộng quí cô trang bị như người ta đi ra ngoài không gian, tức là mắt mũi che hết vì sợ con vắt quá. Thành ra bao trùm kín hết, chỉ ló hai con mắt ra, sợ nó chui vô nó cắn mình.

Từ một người chưa biết gì hết, toàn là dân học trò, rồi một số là cô giáo, mà đa số là học trò chưa bao giờ làm ruộng, quí cô làm ruộng theo kiểu tài tử như vậy. Cho đến khi gặt mùa lúa đầu tiên, quí thầy ngạo nói là mèo mù mà vớ cá rán. Năm đó được 300 giạ lúa. Mừng ơi là mừng.

Ðó là những người nông dân nghiệp dư của thời đó. Nhưng mà cái bóng mát tầm lăng và cái sự hăng say của tuổi trẻ đã làm cho quí cô lớn lên từ từ đến lúc nào không hay. Bây giờ khi gặp lại các em, cô lại bùi ngùi nhớ lại cái thời mình bắt đầu tập tu rất là khờ khạo, nhưng mà cũng rất là chân thành.


Dịch kinh trong bóng tối


Ðó là những tháng ngày cơ cực nhưng mà rất vui khi đêm xuống. Tuy 9 giờ là bắt đầu ngồi thiền, nhưng đến 1 giờ cô vẫn thấy có người ngồi thiền phi thời. Rồi 2 giờ, 3 giờ, lúc nào thức dậy cũng thấy có người ngồi trong tu viện như bức tượng thẳng tắp. Tại vì ban ngày làm cực quá, chỉ có cái nghĩ là mình phải ngồi thiền để tu, tức là tu bù cho những lúc lao tác nhiều quá.

Có khi tối những người ngồi thiền tối cũng phải bỏ luôn vì lúa thì rục ngoài đồng bắt buộc phải cắt vào. Ðậu phộng tới mùa thu hoạch mà không thu thì coi như tất cả công lao của mình đều đổ sông biển hết. Thành thử giờ tọa thiền biến thành giờ lặt đậu phộng. Vừa lặt đậu phộng, vừa cấy đậu phộng trở lại. Các vị lớn tuổi cảm thấy áy náy khi bỏ những giờ ngồi thiền, nên cô nhớ lúc nào cũng có người ngồi thiền phi thời.

Riêng phần cô thì vừa vô mùng, đưa tay lên định bỏ mùng xuống để ngủ, nhưng mà chưa kịp chạm đến cái mùng thì đã ngủ mất rồi. Thật sự cô không bao giờ ngồi thiền phi thời nhưng mà rất thường khi ngủ phi thời, có nghĩa là trong thời ngồi thiền thì cô ngủ tít luôn. Tại vì quá mệt, ngủ đến nỗi không chiêm bao.

Bên cạnh những chuyện đó, tu viện nghĩ chuyện dịch kinh. Nếu mình đợi những chị lớn làm thì không biết bao giờ mới làm, cho nên tu viện tự phát. Tu viện bắt đầu dịch kinh từ Hán tạng ra, và cũng có một số là dịch từ tạng Anh ngữ. Mục đích chính là học để làm tư lương cho mình và nhất là rút tỉa những bài học của người xưa khi người ta ở trong những hoàn cảnh rất khó khăn, người ta đã sinh sống như thế nào để chị em tự xách tấn lẫn nhau.

Lúc đó cô cũng bắt đầu võ vẽ dịch kinh. Dịch để học vì tất cả kinh điển thời đó, ngay cả bộ Bali thì Hòa Thượng Minh Châu cũng chưa dịch ra, còn kinh điển Hán tạng còn nằm trong tạng hết, mà đâu phải chỗ nào cũng có tạng kinh.

Mỗi tháng quí cô được mua một lít dầu hôi và vài cái hộp quẹt diêm. Ưu tiên cho Ðức Phật trước, nên Ðức Phật có được ngọn đèn. Còn tất cả nếu muốn có đèn thì phải dè sẻn. Thiền viện có một bộ đại tạng thì quí cô mượn về. Cô nhớ chữ nhỏ bằng hột mè, mà mình phải soi bằng những cái đèn mà mình gọi là đèn hột vịt, đèn nhỏ xíu như vậy, rồi lật tự điển.

Rồi cô vừa dịch vừa dỗ các em, cũng không có sách báo gì để coi. Cô vừa viết để cho các em nó đọc, và cũng tự dỗ lấy mình. Những cuốn Hư Hư Lục, Hi Hi Lục, rồi những cuốn truyện ngắn, những bài kinh được dịch từ bóng tối của những ngọn đèn đó.

Phải nói là phong trào học Phật thời đó rất là sôi nổi. Các em không có viết. Cứ mua mực về ngâm một bình, viết bằng ngòi viết lá tre, chấm mực mà viết. Giấy màu rất vàng, cũng không có tiền mua, tập vở lúc đó khan hiếm. Quí em trong tu viện mới chép tay, tức là dịch trang nào ra thì chép tay trang đó. Cô viết trang nào thì các em chép, và nó truyền từ ở trong nam ra tới ngoài miền trung.

Không ngờ những bản kinh đó, những bản dịch đó cho đến bây giờ người ta in thành sách bán khắp các vỉa hè, tức là bán chui. Cho đến khi cô đi ra, cô thấy những tác phẩm của mình bán ở ngoài đó mà cô cũng không dám nhìn. Tại vì mình đâu có xin phép mà in ấn. Không xin phép mà lại nhận là của mình thì có nghĩa là lạy ông tui ở bụi này. Thành ra cô giả lờ luôn. Thôi thì người ta được lợi mình được danh.

Ðó là tiểu sử xảy ra trong bóng tối của những khu rừng âm u.


Niệm Phật giúp người


Tuy chỉ niệm Phật, cô cũng từng giúp một em bé sinh thuần tử an. Em bé đó bị ung thư. Người mẹ thấy con nằm đó mà không chữa bệnh được thì đau đớn vô cùng. Bà đến vấn kế nhờ cô coi ngày, bữa nào tốt ngày cho em đó uống một muỗng thuốc rày để em đó ra đi cho nhẹ nhàng. Người mẹ thì kiệt sức mà em bé sống lay lắt hoài.

Khi thấy trường hợp đó, cô sợ quá mà cũng không dám nói là nên hay không nên. Cô hoãn binh bằng cách chiều hôm đó đến tụng kinh cho em bé.

Em bé mới 9 tuổi thôi, bị ung thư xương, coi như thịt bị hoại thư rồi, mùi thúi lan ra khỏi ngôi nhà, không trị được nữa. Nhưng mà em bé đó biết. Nó mới nói, ?Cô ơi cô dẫn con đi chớ mẹ con tính tối nay giết con bằng cách cho con uống thuốc chuột.?

Cô mới nói, ?Không sao, có cô mẹ không làm điều đó đâu, nhưng mà cô sẽ tụng kinh. Cô xin với Phật, nếu con sống được thì cô sẽ đưa con đi trị bệnh. Giả sử cái thân này nó hư rồi, giống như cái xe mà nó hư hết không xài được, cô sẽ xin Phật cho con một cái thân khác. Ở đời sau cô cũng tìm đến để đưa con về chùa. Con chịu không?? Nó nói, ?Dạ chịu.?

Theo các vị lớn trong chùa dạy thì đầu tiên cô dạy nó sám hối. Cô hỏi con có lỗi gì mà con ray rứt trong lòng. Nó nói con ăn cắp tiền của mẹ. Nhà nghèo quá, sáng mẹ không cho ăn. Lâu lâu ăn cắp tiền của mẹ để mua bánh ăn. Cô mời mẹ nó đến để xin sám hối.

Nó nói theo cô, ?Con là bé Nhi, 9 tuổi. Khi mẹ sinh ra con, cơ thể con lành mạnh không có tì vết gì, nhưng mà con không biết, cho nên con dùng tay con vào một chuyện không tốt là ăn cắp tiền của mẹ. Xin mẹ tha thứ cho. Ðể do sám hối này đời đời kiếp kiếp con sinh ra tay chân lành lặn, sinh nơi nào cũng có cha mẹ đầy đủ, gặp thiện hữu tri thức dẫn dắt cho con tu.?

Cô nói tới đâu nó nói theo tới đó. Xong cô mới nói vậy thì con sám hối được mẹ tha thứ rồi, Phật chứng minh rồi, tội con hết rồi. Bây giờ cô niệm Phật. Cô niệm ?Nam Mô A Di Ðà Phật,? con nghe theo rồi niệm với cô.

Cô niệm với nó chừng vài lần thì nó nói, ?Cô ơi, chân con lạnh quá.? Niệm thêm một chút, nó nói, ?Cô à cái lạnh nó lan lên đầu gối.? Cô niệm một lát nó nói, ?Cô ơi lạnh lên tới bụng.?

Cô nói con cứ niệm theo cô cho đến bao giờ con không niệm được nữa thì cô niệm một mình con nghe. Ðến chừng mười phút sau, nó nói, ?Cô ơi, con nhắm mắt lại, cô niệm một mình con nghe.?

Từ lúc cô đến dạy nó sám hối và niệm Phật thì 15 phút sau cô thấy nó bất động. Cô đưa tay lên bắt mạch thì không còn, đưa một ngọn đèn trước mũi cũng không còn, thì biết cháu đã ra đi.

Trong cảnh đau lòng này chỉ có dạy em bé sám hối và nương vào hồng danh của Ðức A Di Ðà. Lúc đó cô vừa rời tu viện, bản thân cô cũng đau. Vì cái đau của mình, cô cảm nhận được cái sự bơ vơ của bệnh nhân trước ngưỡng cửa tử. Biết rằng người thân của mình sắp ra đi, rất bơ vơ, thì cô niệm chí thành như vậy. Thân tâm cung kính niệm, cô chỉ có thể làm tới đó thôi.


Không hoàn tục nhờ pháp vị


Hòa thượng là một vị thầy đánh dấu một bước đời rất quan trọng của cô. Nếu cô không được gặp ngài thì cô đã hoàn tục năm 22 tuổi. Năm đó khi học xong cử nhân, đi dạy trường Bồ Ðề, đâm ra cô chán tu, nghĩ sao mình tu không thấy có cái gì hay hết.

Chỉ tụng kinh, cầu an, cầu siêu rồi đi xin đồ chay ngoài chợ về nhà nấu ăn thôi. Mà trong khi những người đồng bạn của mình, họ học ra làm bác sĩ, làm giáo sư, đóng góp rất nhiều cho xã hội. Trong khi mình chỉ giống như một thầy cúng. Do đó mà cô có ý định trở về, hoàn tục, sống đời của một Phật tử tại gia, và đóng góp vào xã hội bằng khả năng của mình.

Khi có cái tâm chán như vậy thì cô đổ lì ra, không thèm tụng kinh, không thèm ngồi lạy sám hối, thời đó chưa biết tu thiền. Thấy vậy, quí sư bà mới ?dẫn độ? cô lên gặp hòa thượng. (Cười). Trước khi dẫn cô lên gặp hòa thượng, sư bà đã gặp ông thầy bói, nhờ ông bói coi căn duyên tu hành của con nhỏ này nó tới bao lâu, chừng nào mới hết lì. ?ng thầy bói mới nói thôi thì kiếm thầy cho cổ học đạo đi, tại vì bây giờ cổ đang trải qua thời từ trẻ con biến qua một người lớn, nên nó có những thay đổi như vậy. Sư bà mới ?áp giải? cô lên núi gặp hòa thượng.

Cô nói với hòa thượng, ?Thưa thầy, cái mãnh lực giữ con lại trong đạo là lòng tự ái, vì khi con đi tu những bà bạn của mẹ nói con nhỏ này vô chùa bữa trước bữa sau, ba bảy hai mươi mốt ngày, nó chạy về nhà. Và vì nhiều người cản cho nên con quyết tâm đi tu, bây giờ trở về mắc cỡ, chứ thật sự ra con nghe chán cái cuộc đời tu quá.?

Thầy mới dạy câu thế này: Người ta sống ở đời phải có niềm vui. Niềm vui của thế gian là ngũ dục, là tài, sắc, danh, lợi, ăn ngủ chẳng hạn. Khi đạt được những cái đó người ta cảm thấy đạt được một cái gì, một niềm vui của thế tục. Người tu thì không hưởng ngũ dục như người thế gian. Niềm vui của người tu là pháp vị.

Thầy không trách một người tu khi họ đòi hoàn tục, vì họ không thể sống ở đời mà không có niềm vui. Thành ra không thấy niềm vui trong đạo thì người ta sẽ trở về với thế tục. Cô mới hỏi pháp vị ở đâu. Thầy hỏi lại con có thể bỏ hết mọi việc để theo thầy học kinh không thì thầy sẽ chỉ cho con pháp vị, chứ làm sao thầy chỉ liền ngay bây giờ.

Khi đó cô mới thu xếp để lên theo thầy với lời hứa thầy sẽ chỉ cho pháp vị. Theo học thầy không được bao lâu, xảy ra cuộc biến động năm 1975. Thầy một nơi trò một ngả. Tuy ở xa, không gần đệ tử, thầy luôn luôn xách tấn. Chính nhờ thầy mà quí cô mới cố gắng cầm cự, gặm đất mà ăn để sống. Ðến bây giờ còn tu là nhờ lúc gặp thầy.

Pháp vị chỉ không một ngày một bữa. Chính thầy cho cô cái niềm tin rằng có người thực hành Phật pháp, có người ưu tư đến chuyện sống còn của Phật pháp.

*

Sau buổi pháp thoại ở Quận Cam, Sư Cô Như Thủy lên đường đến San Jose và những nơi khác, mang theo câu chuyện pháp vị lênh đênh như một con thuyền đạo trên dòng đời mênh mông ở xứ người. Một chiều Thứ Bảy đầu Tháng Năm, gần hết giờ làm việc ở tòa soạn Nhật Báo Người Việt, tôi liên lạc được với Sư Cô bằng điện thoại. Lúc đó Sư Cô đang ở Boston, Massachusetts, cách xa Quận Cam, California hơn 3,000 dặm.

Vẫn với giọng điềm đạm, hơi mệt mỏi sau một ngày thuyết pháp, Sư Cô nói rằng người Việt mình ở xứ Mỹ này rất đáng nể phục. Từ hai bàn tay trắng, họ tạo dựng những cộng đồng lớn mạnh, gìn giữ văn hóa, và họ ?kiếm đồng tiền rất khó khăn,? không dễ như người trong nước từng nghĩ.

?Ði tu ở bên Mỹ cũng khó hơn nhiều lắm,? Sư Cô nhận xét. ?Tăng sĩ ở bên này cần biết ngoại ngữ, cần có thầy hướng dẫn. Ở Việt Nam tăng sĩ sống trong túp lều cũng được, có người đồng tu giúp đỡ. Ở bên Mỹ một tăng sĩ phải làm hết mọi thứ ở chùa, từ A đến Z. Quá khó.?

Thay vì ở lại Mỹ cho đến đầu Tháng Bảy, Sư Cô Như Thủy cần trở về Vĩnh Long gấp vì có thân nhân đang lâm trọng bệnh. Khi biết tôi có ý định viết bài, đăng hình, Sư Cô khuyên tôi đừng viết gì hết vì đời tu và công việc từ thiện của Sư Cô không có gì đáng nói. Biết bao người khác đã thực hiện được nhiều hơn cho xã hội, tu tập khổ hơn, Sư Cô thấy.

Tôi không nghĩ như vậy. Những người tạo được công đức như Sư Cô không là bao nhiêu. Trong lúc viết bài này, tôi được hai vị Phật tử đề nghị cung cấp những tấm hình ghi nhận công tác từ thiện của Sư Cô ở Việt Nam cũng như trong những buổi giảng tại Hoa Kỳ. Thế nhưng nhớ lại vị tỳ kheo ni khiêm tốn không muốn nhắc đến cái tôi, người viết này quyết định không dùng những bức hình ấy để bày tỏ sự tôn trọng.

Nhưng mà có lẽ nhờ nhân duyên, tôi chụp được một tấm hình khác trong cùng thời gian Sư Cô đến Nam California. Bức hình đó cho thấy hình ảnh Ðức Phật tọa thiền bên cạnh những đóa xương rồng nở rộ như hoa sen. Mỗi khi xem lại bức hình này, tôi nghĩ đến chuyện đời tu của Sư Cô Như Thủy, và thấy hoa nở trong tâm Phật.

Bài và hình: Hoàng Mai Ðạt
ST